Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2008

DS3 - HẠT LỌC XỬ LÝ NƯỚC PHÈN



Hạt lọc nước đa năng DS3 dùng xử lý nước nhiễm phèn, nước giếng…, đã được tặng giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam. Nhờ tính năng loại bỏ sắt, magan và các yếu tố độc hại khác, DS3 là sản phẩm bảo vệ sức khỏe trước hiện trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Với 50kg DS3 và vài thùng nhựa có thể tạo nên thiết bị lọc nước gia đình. Xem sơ đồ ở dưới,
Đơn đặt mua (qua E-mail hoặc Fax, thư, điện thoại), ghi rõ họ tên, địa chỉ và số điện thoại nhà riêng, điện thoại di động, số lượng cần mua.
Hàng được gửi khi nhận được đơn đặt mua, sau 3-5 ngày sẽ có mặt tại ga xe lửa hoặc trạm bưu điện gần nhà.
Thanh toán: Quý khách chuyển tiền vào tài khoản bên bán.
Giá bán: 12 000đ/kg – 17 000đ/kg, tùy nơi giao hàng
Liên hệ: Tiến sỹ Nguyễn Bá Trinh - Viện Hóa học - VKHCNVN - Hà Nội.
ĐT:0915 652 689; Email:ngbatrinh@yahoo.com
; website: http://hhtnn.blogsot.com















Trạm xử lý nước phèn 20m3/giờ, Thạnh Phú Bến Tre

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NƯỚC PHÈN

Giai đoạn hình thành khoáng Pyrite FeS2
Sự hình thành pyrite là nguy cơ của phèn hoá đất và nước. - Giai đoạn đầu là sự phát triển của hệ thực vật nước mặn ở vùng gần bờ biển. Sau đó, do quá trình bồi tụ phù sa cùng với sự rút lui dần của biến, rừng ngập măn bị mất môi trường sống. Cây ngập mặn bị vùi trong phù sa và bị phân huỷ yếm khí. - Nước mặn (nước biển) có hàm lượng ion sunphát SO4 ( 2-) rất cao (vài nghìn miligam trong một lít – cao gấp hàng trăm lần trong nước ngọt). Cây nước mặn cũng chứa rất nhiều sunphat. Trong quá trình phân huỷ yếm khí sunphat bị chuyển thành hydrosunphua – SH. Sản phẩm này khử oxit sắt (có rất nhiều trong phù sa bồi tụ) tạo thành sunphua sắt (FeS). Sau đó sun phua sắt chuyển hoá dần thành khoáng pyrite ( FS2). Pyrite dần dần tích tụ lại thành tầng dày. Những vùng đất có tầng pyrite được gọi là đất phèn tiềm tàng.

Gai đoạn hình thành axit sunphủic H2SO4
Sự hình thành axit sunphuric H2SO4 do oxy hóa pyrite là nguyên nhân trực tiếp làm đất và nước nhiễm phèn. - Có nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho oxy không khí xâm nhập sâu vào đất, như mực nước biển hạ thấp xuống, oxy hoà tan vào nước mưa rồi thấm vào đất, cây cối bề mặt chuyển từ phía trên thân lá xuống rễ và vào đất, con người khai phá đất… . Đây là cơ hội để vi sinh vật (Thiobacillus ferrooxydants) trong đất oxy hóa pyrite – làm nguồn năng lượng cho hoạt động của chúng.
.
4FeS2 + 15O2 + 2H2O = 4Fe3+ + 8SO42- + 12H+

Các sản phẩm của quá trình này : axit sunphuric H2SO4, Fe(3+) cùng với ion kali có sẵn trong đất kết hợp thành khoáng jaroste KFe3(SO4)2(H2O)6. Do môi trường có độ axit mạnh nên nhôm trong cấu trúc sét bị hoà tan và kết hợp với các sản phẩm trên thành khoáng alunite KAl3(SO4)2(H2O)6 . Khoáng jarosite và alunite là chỉ thị cho đất phèn hoạt động.

Giai đoạn phá huỷ pyrite và hình thành Fe(2+)Khi môi trường có tính axit mạnh, quá trình oxy hoá pyrite (quá trình hoá sinh) chậm lại, nhưng quá trình phân huỷ pyrite tạo thành Fe2+ (quá trình hoá học) tăng cường:

FeS2 + 2Fe(3+) = 3Fe(2+) + 2S0

Đây là nguyên nhân hình thnành ion Fe(2+) trong nước phèn Quá trình oxy hoá và phân huỷ pyrite làm đát phèn hoạt động tích tụ H+ , SO4(2-), Fe(2+), Al (3+). pH thấp và tính khử cao cũng là nguyên nhân hoà tan nhiều kim loại khác, như mangan, arsen...

Sự hình thành khoáng Halotrichite FeAl2(SO4)4.22H2O
Ở vùng đất phèn thường xuất hiện một loại khoáng màu trắng xám, rất dễ tan trong nước. Đặc biệt là, nước hoà tan khoáng này có thành phần và tính chất giống nước phèn: pH thấp, chứa nhiều Fe(2+), gốc sunphát SO4 (2-) và nhôm, Al(3+). Phân tích hoá học và phổ cho thấy khoáng vật mới này có công thức là FeAl2(SO4)4.22H2O – đó là khoáng Halotrichite. Halotrichite là nguyên nhân làm cho nước bề mặt nhiễm phèn. Quá trình đó được giải thích như sau: - Nước phèn trong đất chứa khoáng halotrichite bị mao dẫn lên mặt đất. Ở đấy, nước bị bốc hơi, để lại khoáng xốp màu trắng xám. - halotrichite mặt đất bị trôi rữa xuống nước do mưa gió… làm cho nước nhiễm phèn: pH thấp và chứa nhiều Fe 2+, Al 3+, SO 4 (2-). Do pH thấp nên nước phèn còn hoà tan nhiều ion khác như Mn 2+… .
....

NƯỚC NGẦM NHIỄM SẮT
Sự xuất hiện Fe(2+) trong nước ngầm
Nước ngầm chứa nhiều sắt cũng được gọi là nước nhiễm phèn. Sắt trong trường hợp này được hình thành do quá trình khử oxit sắt (III)trong đất. Trong điều kiện thiếu oxy không khí, vi sinh vật yếm khí oxy hoá chất hữu cơ theo cơ chế anoxic, trong đó, Fe(3+) - thường ở dạng oxit không tan - là chất nhận electron.

Fe2O3 + C(H2O) + H2O (=) Fe(2+) + H+ + CO2

Sự xuất hiện phèn sắt Fe(OH)3 - Fe2O3Fe(2+) tan trong nước ngầm, khi tiếp xúc với không khí lại bị oxy hoá thành hydroxit sắt(III), sau đó thành oxit sắt:

Fe(2+) + O2 + H2O (=) Fe(OH)3 (=) Fe2O3 + H+

Các sản phẩm của phản ứng này ở dạng keo, lởn vởn trong nước, rất khó lắng. Đấy là hiện nước bị phèn sắt. Fe2O3 có màu nâu đậm. Do đó cá vật liệu tiếp xúc với nước giếng nhiễm sắt thường bị ố vàng nâu. Sự có mặt của chất hữu cơ trong nước ngầm là nguyên nhân chính làm nước ngầm nhiễm phèn sắt. Nước ngầm từ các vùng đất trũng thường chứa nhiều sắt. Việc khai thác nước ngầm quá mức làm mức nước ngầm hạ thấp xuống. Điều đó làm tăng sự thâm nhập chất hữu cơ từ trên bề mặt vào nước ngầm và làm tăng hàm lượng sắt trong nước ngầm. Do keo sắt trong đất hấp phụ nhiêu ion kim loại khác, như mangan, arsenic…. Cho nên sự khử oxit Fe(3+) kèm theo sự hoà tan sắt và các ion kim loại khác, như mangan, arsenic ..

NƯỚC CỨNG - NƯỚC NHIỀU CẶN VÔI


THÔNG TIN VỀ NƯỚC CỨNG

Nước cứng là nước chứa nhiều canxi, manhê. Nước cứng phổ biến ở vùng núi đá, như thị xã Gia Lai, Nho Quan Ninh Bình, Quốc Oai Hà Tây, Sa Pa, Na Rì Bắc Cạn, Bắc Sơn Lạng Sơn, Cát Bà Hải Phòng, Lào Cai, Yên Bái… Một số vùng xa núi nhưng nước vẫn có độ cứng rất cao, như Nghi Lộc Ngệ An, một số nơi ở tp HCM…
Nước cứng do muối các-bô-nát Ca, Mg gọi là nước cứng tạm thời. Nước cứng do muối sunphát, clorua Ca, Mg gọi là nước cứng vĩnh cửu.
Độ cứng của nước là lượng muối cac-bô-nát có thể kết tủa (tính theo CaCO3). Độ cứng nước sinh hoạt không được lớn hơn 300mgCaCO3/lít.
Nước cứng gây nhiều phiền toái cho sử dụng: Nước hơi nhờn nhờn, làm cứng tóc khi tắm gội, làm đen nước trà, nước luộc rau, đặc biệt là lắng cặn khi đun. Ăn uống nhiều nước cứng có thể bị các bệnh về thận, tim mạch…
Có 2 phương pháp thường dùng để giảm độ cứng :
- Phương pháp trao đổi ion
- Phương pháp lọc thẩm thấu ngược (RO)
- Phương pháp xử lý hoá chấtPhương pháp trao đổi ion và RO có nhược điểm là loại bỏ hoàn toàn canxi trong nước, trong khi canxi cũng là một yếu tố cần thiết cho cơ thể. Phương pháp DCA có thể điều chỉnh chỉ loại bỏ một phần canxi. Trên thế giới cũng như trong nước, phương pháp xử lý bằng tiện lợi hơn nhiều, đặc biệt là ở các vùng xa thành phố.

CÔNG NGHỆ KHAI THÁC VÀ TÍCH TRỮ NƯỚC MƯA (1)


Kỹ thuật mới: Trữ nước mưa trên cát

Việt Nam có lượng mưa rất cao, khoảng 1976 mm/năm, cao hơn rất nhiều so với lượng mưa bình quân toàn lục địa châu Á. Gần 100% gia đình nông thôn đều hứng nước mưa nên nguồn nước này thực sự là cứu cánh, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống về nước mưa. Trong một dự án khoa học công nghệ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, TS. Nguyễn Bá Trinh (Viện hóa học, thuộc Viện khoa học và công nghệ Việt Nam) đã chủ trì thực hiện thành công công nghệ “Trữ nước mưa trên cát” với chi phí thấp và dễ dàng thực hiện.
TS. Nguyễn Bá Trinh cho biết, công nghệ “Trữ nước mưa trong hồ cát” mang tính ưu việt, tránh được sự thẩm thấu, nhiễm mặn, giảm chi phí dự trữ, khai thác triệt để tài nguyên nước mưa, góp phần giải quyết nguồn nước cho vùng biển, hải đảo. Công nghệ trữ nước mưa này cũng có thể áp dụng cho nhiều vùng khác với điều kiện có nguồn cát. Người dân có thể tự làm hồ trữ nước với quy trình đơn giản, thời gian sử dụng vài chục năm, chi phí chỉ vài triệu đồng tùy theo khối lượng nước trữ.


Chất lượng nước trữ đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt (ăn, uống).Quy trình thực hiện hồ cát:Hồ chứa đầy cát, sâu 2 - 3 m, đáy và thành hồ được xử lý bằng vật liệu chống thấm. Diện tích đào hồ cát tùy theo nhu cầu sử dụng và lượng mưa tại địa phương. Nếu nhu cầu là 100 m3 nước trong 1 năm và lượng mưa trung bình hàng năm là 1.660 mm (1,66 m) thì diện tích hồ cát phải đào là 60,24 m2 (100:1,66). Để chứa hết lượng nước mưa này hồ cát cần thể tích 300 m3. Tuy nhiên do một lượng nước được sử dụng bớt hàng ngày nên thể tích chứa chỉ cần khoảng 150 - 200 m3. Do đó độ sâu của hồ cát vào khoảng 3 m. Để tránh sụt lở thành hồ cát cần có độ nghiêng nhất định.Các bước thi công hồ cát:- Đào hồ cát (xem hình vẽ).



- Trải vật liệu chống thấm nước lên đáy và thành hồ (nylon, hoặc các loại màng chống thấm khác). Đặt 4 đường ống lọc nước ở đáy để thu nước về trung tâm hồ. Đặt một thùng nhựa đã đục thủng đáy ở giữa trung tâm hồ (nhằm tạo giếng khai thác nước). Cho cát sạch vào đầy hồ. Rào chắn hoặc xây tường bao quanh hồ.Công nghệ này đã áp dụng tại huyện đảo Cát Hải (Hải Phòng) và sắp triển khai tại huyện ven biển Thạnh Phú (Bến Tre). TS. Trinh sẵn sàng hướng dẫn và tư vấn cho người dân quan tâm.

TS. Trinh cho biết, khai thác nước mưa đang rất được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Tại Nhật việc khai thác, dự trữ nước mưa được in thành sách hướng dẫn sử dụng cho người dân. Một số nước châu Phi, lượng mưa hàng năm rất thấp (400 - 700 mm/năm), nhưng chú trọng dự trữ nước trong cát nhờ các công trình gọi là đập cát (sand dam). Đập cát được xây dựng bằng cách ngăn một con đê ngang qua sông đã khô nước. Cát rữa trôi từ trên cao dần dần lấp đầy đập. Nước mưa được dự trữ lại trong cát. Đập cát là một nét văn hóa của một số nước châu Phi và thu hút rất nhiều khách du lịch tham quan. Tại Mỹ, nước mưa mặt đất được chứa trong các hồ lớn để làm sạch sơ bộ, sau đó bổ sung vào nước ngầm.

CN KHAI THÁC VÀ TÍCH TRỮ NƯỚC MƯA (2)








CÔNG NGHỆ TỰ NHIÊN XỬ LÝ NƯỚC MẶT





Hệ thống công nghệ tự nhiên
(Công nghệ xử lý nước dựa trên cơ sở các quá trình tự nhiên),
triển khai tại Quảng Bình


















CƠ SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỰ NHIÊN

10 the transformation proccesses of the organic compounds in the water environment

Abstact
10 the transformation proccesses of the organic compounds in the water environment include: photolyse; photosynthese; aerobic oxydation; anoxic oxydation; anaerobic biodegradation; adsorption and sedmentation; cycles of iron and mangan; cycles of sunphur; cycles of carbon; cycles of the food chain. They are the members of the self cleanup proccess in surface water. It is one of the scientific bases of the technology to have rebirth surface water quality.
10 qu¸ tr×nh chuyÓn ho¸ c¸c chÊt h÷u c¬ trong m«i tr­êng n­íc tù nhiªn
10 the transformation proccesses of the organic compounds in the water environment

NguyÔn B¸ Trinh,
ViÖn Ho¸ Häc, Trung t©m Khoa häc tù nhiªn vµ C«ng nghÖ Quèc gia
§T: 04 7561486, Fax: 04 8361 283, E-mail: trinh@ich.ncst.ac.vn

Abstact
10 the transformation proccesses of the organic compounds in the water environment include: photolyse; photosynthese; aerobic oxydation; anoxic oxydation; anaerobic biodegradation; adsorption and sedmentation; cycles of iron and mangan; cycles of sunphur; cycles of carbon; cycles of the food chain. They are the members of the self cleanup proccess in surface water. It is one of the scientific bases of the technology to have rebirth surface water quality.

cd15

cd14

cd13

cd12

cd10

cd09

cd08

cd07

cd06

cd05